18 tháng 4, 2014

4 cách để quét và sửa chữa máy tính bị nhiễm virus từ bên ngoài Windows


Nếu hệ thống Windows của bạn bị nhiễm virus, phần mềm độc hại … thì việc chạy một phần mềm chống virus cài đặt trên Windows thường sẽ không giúp ích được gì! Trái lại còn làm “bệnh” thêm trầm trọng. Lúc này, virus và phần mềm độc hại có thể ẩn sâu trong hệ thống Windows nhầm tránh sự phát hiện từ các phần mềm chống virus, đến một lúc nào đó, chúng có thể vô hiệu hóa cả phần mềm chống virus. Đừng lo, bạn có thể dễ dàng tìm thấy và “tẩy chay” chúng bằng cách quét từ bên ngoài hệ thống Windows.

1. Khởi động vào chế độ Safe Mode

Chế độ Safe Mode không phải là hoàn toàn nằm ngoài hệ thống Windows, vì vậy, nó có thể không giúp ích được gì cho bạn nếu virus/phần mềm độc hại đã lây nhiễm sâu vào hệ thống tập tin của bạn. Trong chế độ Safe Mode, Windows sẽ không tải các chương trình khởi động của bên thứ ba hoặc trình điều khiển phần cứng. Nếu phần mềm độc hại đang chạy khi bạn khởi động vào chế độ bình thường của Windows, nó sẽ không tự động chạy khi bạn khởi động vào chế độ Safe Mode.

Từ môi trường tối thiểu này, bạn có thể cài đặt một chương trình chống virus, sau đó tiến hành quét và loại bỏ nó. Nếu bạn đã có một chương trình chống virus được cài đặt và nó không thể loại bỏ được phần mềm độc hại – hay phần mềm độc hại vẫn phục hồi lại sau khi đã quét và loại bỏ nó, bạn có thể khởi động vào chế độ Safe Mode để loại bỏ triệt để các phần mềm độc hại này.

Để vào chế độ Safe Mode trên Windows 7 hoặc trước đó, khởi động lại máy tính của bạn và nhấn phím F8 liên tục khi bắt đầu quá trình khởi động. Chọn chế độ Safe Mode hoặc chế độ Safe Mode with Networking trong menu xuất hiện. Bình thường, chế độ Safe Mode không cung cấp truy cập Internet, do đó, bạn sẽ phải cài đặt một trình Antivirus từ ổ đĩa USB hoặc các phương tiện di động khác. Trong khi đó, chế độ Safe Mode with Networking cung cấp truy cập Internet, do đó, bạn có thể tải về và cập nhật một trình diệt virus từ bên trong chế độ Safe Mode. Đăng nhập vào máy tính của bạn, tải về và cài đặt phần mềm chống virus, sau đó khởi chạy và tiến hành quét sạch virus.


Trên Windows 8 hoặc sau đó, nhấn tổ hợp phím Windows + I để mở cửa sổ charm Settings. Bấm và giữ phím Shift khi bạn nhấp vào tùy chọn Restart dưới nút nguồn. Máy tính của bạn sẽ khởi động lại vào một menu tùy chọn khởi động đặc biệt. Nhấp vào Troubleshoot > Advanced Options > Startup Settings > Restart. Trên màn hình Startup Settings, nhấn phím F4 hoặc 4 để vào chế độ Safe Mode, hoặc nhấn phím F5 để vào chế độ Safe Mode with Networking.


Khởi động lại máy tính của bạn nếu bạn muốn thoát khỏi chế độ Safe Mode.

2. Sử dụng đĩa khởi động Antivirus

Các công ty sản xuất phần mềm chống virus thường tạo ra đĩa khởi động diệt virus, bạn có thể sử dụng để quét và sửa chữa máy tính của bạn. Những công cụ này có thể được ghi vào đĩa CD/DVD hoặc cài đặt vào ổ đĩa USB. Bạn có thể khởi động lại máy tính, sau đó tiến hành khởi động từ các phương tiện di động chứa trình khởi động diệt virus và bắt đầu quá trình quét và sửa chữa máy tính của bạn.

Tất cả quá trình quét và sửa chữa này đều xảy ra từ bên ngoài hệ thống Windows – vì phần lớn đĩa khởi động đều dựa trên nền tảng Linux, do vậy, các phần mềm độc hại sẽ trở nên “bất lực”. Khi đó, công cụ sẽ phát hiện các rootkit và phần mềm độc hại ẩn sâu trong hệ thống Windows, và sau đó, nó sẽ loại bỏ chúng.


3. Quét với Live CD Linux

Bạn cũng có thể quét hệ thống Windows của bạn từ một Live CD Linux hoặc Live USB. Nếu bạn có một đĩa CD/USB cài đặt Ubuntu Linux, bạn có thể khởi động lại máy tính của bạn và khởi động vào Ubuntu. Nhấp vào liên kết Try Ubuntu để mở môi trường desktop Linux.

Từ đây, bạn có thể cài đặt phần mềm chống virus như mã nguồn mỡ ClamAV/giao diện đồ họa ClamTK, AVG cho Linux hoặc BitDefender cho Unices. Sau đó, bạn có thể quét ổ đĩa Windows để phát hiện và xóa sạch phần mềm độc hại từ bên trong Linux. 


Lưu ý, công việc này đòi hỏi bạn phải biết sử dụng Linux, vì vậy, bạn có thể sử dụng đĩa khởi động chống virus chuyên dụng để thay thế là tốt nhất.

4. Tháo ổ cứng ra và kết nối nó với máy tính khác

Nếu bạn đang đối phó với một máy tính để bàn hoặc máy tính khác cho phép bạn dễ dàng tháo ổ đĩa cứng ra, lúc này, bạn không còn phải để nó trong máy tính của bạn nữa mà di chuyển nó sang một máy tính khác để diệt virus. Bạn chỉ cần mở máy tính, tháo ổ đĩa cứng ra, và kết nối nó với máy tính khác. Sau đó, bạn sẽ có thể truy cập tất cả các tập tin trên ổ đĩa cứng của bạn.

Bạn có thể sử dụng bất cứ hệ điều hành nào đó trên máy tính  khác, chẳng hạn như: Window, Linux, hoặc thậm chí Mac OS X – nơi mà bạn có thể cài đặt phần mềm chống virus và sử dụng nó để quét ổ đĩa đã nhiễm phần mềm độc hại của bạn. Lúc này, phần mềm độc hại có thể được tìm thấy và sẽ được loại bỏ khởi hệ điều hành, vì khi đó, phần mềm độc hại sẽ không chạy được và không thể chống lại khi bạn tiến hành loại bỏ nó.


Tất cả các phương pháp nói trên sẽ giúp bạn chiếm “thế thượng phong” khi trong hệ thống Windows của bạn đã lây nhiễm virus/phần mềm độc hại. Thay vì phải chiến đấu với phần mềm độc hại trên môi trường riêng của nó, các phương pháp này cho phép bạn đóng băng tất cả mọi thứ xảy ra trên hệ điều hành chính của bạn và sẽ xóa sách nó từ bên ngoài hệ thống Windows.

Chúc bạn thành công!

Không chỉ là đam mê!